Nguyễn Thành Trực

Tôi đi tiên phong trong việc ứng dụng NLP vào Marketing Online và cung cấp bí quyết xây dựng hệ thống kinh doanh online triệu đô.

Quảng Cáo SEO Google 2014!

Google dựa trên 200 tiêu chí để xác định website nào liệt kê ở vị trí số 1, số 5, số 10 hay số n trong kết quả tìm kiếm.

Khám Phá Lập Trình Ngôn Ngữ Tư Duy - NLP

Tôi (Nguyễn Thành Trực) đã ứng dụng NLP vào Marketing Online, Sales bán hàng rất hiệu quả. Ngoài ra, NLP cùng giúp tôi phát huy rất nhiều mặt như: Hành vi, suy nghĩ, hành động,...

Quảng Cáo Google Adwords 2014

Dùng trong các kế hoạch ngắn hạn, khuyến mãi,... Đưa từ khóa lên trang 1 Google bằng cách mua từ khóa.

Khóa Học Google Adwords và Facebook Ads tại HCM

FACEBOOK ADS VÀ GOOGLE ADWORDS là 1 trong những công cụ online hiệu quả nhất hiện bây giờ. Giúp tăng doanh thừ 20% đến 200%.

Sự Kiện GBG Đà Nẵng

Tham Gia Buổi Ra Mắt Google Business Groups (GBG) Da Nang

Buổi chia sẻ về dịch vụ Google Adwords Tại Be Training

Với hơn 90% người dùng Internet tại Việt Nam sử dụng Google tìm kiếm thông tin trước khi quyết định mua một sản phẩm hoặc dịch vụ bất kì.

Dịch Vụ Marketing Online 2014

Giải pháp tăng doanh số mỗi tháng từ 10% đến 200%

Quảng Cáo Ads Facebook - Tăng Like Fanpage Facebook 2014

Giải pháp tăng doanh số khi chúng ta xây dựng cộng đồng - Quảng cáo bài viết

Monday, September 9, 2013

Phần 1 - Sự thật về khủng hoảng truyền thông - Thật là khủng khiếp?


Nội dung nổi bật:

- Trong thời đại của Internet, khủng hoảng truyền thông cực kỳ nghiêm trọng, một lý do nhỏ cũng có thể biến cho những bất lợi rất lớn.
- Xử lý khủng hoảng truyền thông không tốt có thể dẫn đến rất nhiều tổn hại lớn cho doanh nghiệp, thậm chí đe dọa đến sự tồn vong.

- Cuộc khủng hoảng truyền thông của ngân hàng ACB vào tháng 10/2003 được coi là cuộc khủng hoảng lớn đầu tiên xảy ra với các thương hiệu của Việt Nam



Lý do khủng hoảng từ "trên trời rơi xuống"

Cuộc khủng hoảng truyền thông của ngân hàng ACB vào tháng 10/2003 được nhiều chuyên gia quan hệ công chúng coi là cuộc khủng hoảng lớn đầu tiên xảy ra với các thương hiệu của Việt Nam, cuộc khủng hoảng đã khiến hàng loạt công ty phải xem xét đến một trường hợp rủi ro mà họ chưa bao giờ phải đối mặt trong hoạt động kinh doanh của mình. 

Vào những ngày đầu tháng 10/2003, trong giới ngân hàng có một tin đồn được rỉ tai nhau là ông Phạm Văn Thiệt, tổng giám đốc ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) đã bỏ trốn. Trong những ngày đầu, thông tin này lan truyền giới hạn trong giới ngân hàng, nhưng vào đầu tuần sau, nó đã bùng phát và lây lan với tốc độ chóng mặt tại thành phố Hồ Chí Minh, và được “nâng cấp” lên với tin ông Phạm Văn Thiệt đã bị bắt. 

Người dân hoảng hốt đổ xô tới rút tiền tại các phòng giao dịch của ngân hàng ACB, gây ra ùn tắc giao thông, càng khiến cho tin đồn lan mạnh. Đỉnh điểm là ngày 14/10/2003, khi người dân xếp hàng tới tận nửa đêm để đòi lại các khoản tiền mình đã gửi tại ngân hàng. 

Chỉ trong một thời gian ngắn, hơn 900 tỷ đồng (ở thời điểm cách đây mười năm) đã bị rút ra. Ngân hàng ACB đứng trước khả năng không còn đủ tiền mặt để chi trả cho khách hàng, và nếu không có sự can thiệp kịp thời và mạnh mẽ của Ngân hàng Nhà nước, nguy cơ về sự sụp đổ của ACB, một sự kiện có thể châm ngòi cho một phản ứng domino sẽ tác động cực kỳ nguy hiểm cho toàn bộ hệ thống tài chính ngân hàng của Việt Nam, là không phải không được tính đến.

Cộng đồng doanh nhân còn “rúng động” trước sự nguy hiểm của sự kiện ACB ở chỗ không có bất cứ một lý do nào cho loại tin đồn thất thiệt như vậy. Ở thời điểm đó, ngân hàng ACB là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần tốt nhất tại Việt Nam.

Ông Phạm Văn Thiệt cũng không phải là người “nổi bật” trong công chúng (như trường hợp sau này của ông Nguyễn Đức Kiên) . Ngân hàng ACB cũng đã dùng rất nhiều phương pháp để trấn an công chúng (giám đốc Phạm Văn Thiệt luôn luôn ngồi trong văn phòng ở hội sở chính, sử dụng điện thoại cố định chứ không phải điện thoại di động, chủ động xuất hiện ở một loạt các sự kiện để đưa hình ảnh cá nhân trên các phương tiện thông tin đại chúng)… nhưng có vẻ tất cả những điều đó cũng không giúp được gì nhiều khi tin đồn làm công chúng hoảng loạn. 

Lần đầu tiên, giới doanh nhân Việt Nam ý thức được rằng, một cuộc khủng hoảng truyền thông vì một lý do “trên trời rơi xuống” hoàn toàn có thể khai tử doanh nghiệp của mình.


Câu trả lời trung thực là: Tiền!

Trong những buổi hội thảo về quản lý truyền thông trong khủng hoảng, tôi thường hỏi những người tham gia “tại sao sếp của các bạn lại sợ khủng hoảng truyền thông như vậy” hay “theo bạn khủng hoảng truyền thông nguy hiểm như thế nào?”. 

Câu trả lời thông thường là sợ đánh mất lòng tin của người tiêu dùng, hình ảnh thương hiệu bị ảnh hưởng hoặc không bán được hàng. Câu hỏi kế tiếp của tôi thường là “nếu các bạn ở vào vị trí người sở hữu công ty này, bạn quan tâm đến điều gì nhất”. 

Giữa vô số các câu trả lời mơ hồ về tầm quan trọng của thương hiệu, sự phát triển bền vững lâu dài của công ty hay niềm tin của người tiêu dùng, thông thường tôi cũng nghe được một vài câu trả lời trung thực mà tôi chờ đợi.

Phải, câu trả lời trung thực là tiền! Những người chủ sở hữu của công ty, đặc biệt khi đó là một công ty đại chúng, chỉ quan tâm đến một điều: tiền hay khả năng sinh lời cho số vốn đầu tư của họ. Vậy thì khủng hoảng truyền thông cắt vào đâu trong điểm nhạy cảm nhất của họ-túi tiền?

Đầu tiên, và sâu nhất, nó cắt vào giá trị cổ phiếu của công ty trên thị trường chứng khoán.

Vào năm 1989, khi chiếc tàu chở dầu Exxon Valdez đâm vào dãy san hô ngoài khơi Alaska, làm chảy từ 260,000-750,000 thùng dầu ra biển, gây ra một trong những thảm họa về môi trường lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ, (chỉ đứng sau thảm họa nổ dàn khoan Deepwater Horizon mười một năm sau đó), thì toàn bộ số tiền mà Exxon buộc phải chi trả để dọn sạch vết dầu loang, đền bù thiệt hại, chi trả cho phí tổn luật sư và án phạt là hơn 4 tỷ đô-la. Nhưng số tiền mà họ đánh mất trên thị trường cổ phiếu lên tới hơn 6 tỷ đô-la. 

Tương tự như vậy, khi xảy ra khủng hoảng truyền thông của nhãn hiệu thuốc Tylenol vào năm 1982, toàn bộ chi phí cho việc thu hồi thuốc, phí trả cho luật sư và những khoản bồi thường chỉ vào khoảng 100 triệu đô-la, nhưng công ty sản xuất ra Tylenol, tập đoàn Johnson&Johnson đã mất tới 20% vốn hóa trên thị trường, tương đương với 2 tỷ đô-la ở vào thời điểm ấy. 

Mặc dù những nỗ lực truyền thông và xử lý khủng hoảng thông minh sau này đã giúp Johnson&Johnson giành lại khoản tiền đã mất khi giá trị cổ phiếu được khôi phục, việc này cũng là một đòn đánh nặng vào các chủ sở hữu của công ty này. 

Trong cuộc khủng hoảng truyền thông mà tôi đang kể, giám đốc điều hành của công ty M. lo lắng nói “toàn bộ doanh thu của thị trường Việt Nam là vào khoảng 40 triệu đô, một số tiền quá nhỏ bé so với doanh thu của chúng tôi trên toàn cầu. Nhưng nếu chúng ta không ngăn chặn và để cuộc khủng hoảng này lan rộng, số tiền mà chúng tôi có thể bị mất từ cổ phiếu sẽ lớn gấp nhiều lần toàn bộ doanh thu của các nhãn hàng chúng tôi ở thị trường Việt Nam”. 

Xem phần 2: Click xem

Sunday, September 8, 2013

Đạo đức Kinh Doanh - Hoặc: Chính Nghĩa Trong Kinh Doanh - Phẩm chất cao quí của Doanh Nhân!

Giá trị, hiệu quả kinh doanh của DN, doanh nhân chỉ được xác nhận bởi xã hội từ những gì DN, doanh nhân đem lại được cho những đối tượng chung quanh
Giá trị cốt lõi!

- Một người lãnh đạo trước khi muốn lãnh đạo tốt DN, muốn được xem là hình mẫu lý tưởng của người lãnh đạo trong DN mình, thì phải có khả năng lãnh đạo chính mình trước

- Steve Jobs, Bill Gates hay Mark Zuckerberg đều tập trung vào một việc và chỉ duy nhất một việc đó là đem lại lợi ích lớn nhất cho con người qua phương tiện phục vụ của họ



Trong thời buổi kinh tế hiện nay doanh nhân VN đang trăn trở đối mặt với bao vấn đề : Kinh tế khó khăn thì nên làm gì ? Chiến lược tiếp theo để tồn tại và phát triển thì phải làm sao ? Làm sao huy động được vốn ? Và một vạn câu hỏi khác thoạt nhìn có vẻ thiết thực nhưng thực chất đây chỉ là những câu hỏi thứ cấp.

Biết làm gì, có vốn kinh doanh nhưng vấn đề mấu chốt ở đây vẫn là làm cho ai ? 

Câu hỏi này nghe qua thì thấy vớ vẩn ngây ngô vì kinh doanh là để làm giàu cho bản thân chứ cho ai ?! Nhưng thật sự cái giá trị, hiệu quả kinh doanh của mình không do mình tự đặt ra, mà chỉ được xác nhận bởi xã hội từ những gì mình đem lại được cho những đối tượng chung quanh.

Bởi giá trị của một cá nhân, của một chủ DN, và ngay cả của một lãnh đạo đất nước được xác định không phải từ giá trị của cá nhân đó, mà phải dựa trên cái tổng giá trị cá nhân đó, cụ thể đã đem lại được lợi ích cho cộng đồng mình phục vụ như thế nào, kể cả những cộng đồng khác có ảnh hưởng gián tiếp đến mình, hoặc chịu ảnh hưởng từ mình.

Giá trị cộng đồng

Những người giàu nhất thế giới từ rất sớm, bằng bản năng đã "ngộ" được khái niệm này nhờ sự hồn nhiên, trong sáng và nhiệt huyết tuổi trẻ. Như Steve Jobs ở tuổi 19 mặc dù không có một chút kiến thức gì về IT công nghệ thông tin, không một đồng vốn mà đã dám mơ làm sao để "mỗi nhà sẽ có được một computer trong bếp".

Bill Gates đang học năm đầu ở Đại học Harvard, bỏ học để đi viết phần mềm IT với ước mơ ấp ủ làm sao để "ai cũng có thể sử dụng được những tiện ích này". Và một Mark Zuckerberg nổi tiếng cả thế giới ngày nay, trước đây cũng bỏ học ngang ở Harvard như Bill Gates để làm sao "kết nối thế giới lại với nhau".

Tất cả đều tập trung vào một việc và chỉ duy nhất một việc đó là đem lại lợi ích lớn nhất cho con người qua phương tiện phục vụ của họ. Và tất cả đã thành công vượt tầm nhờ đã quên mình, dám ước mơ cống hiến cho xã hội. Cả Zuckerberg và Jobs những con người này đều chủ trương sống với nhu cầu cá nhân tối thiểu thì mới có đầu óc suy nghĩ phát huy giá trị tối đa cho người khác.

Họ mặc chỉ một loại quần jean, áo thun để sáng dậy không phải suy nghĩ phải mặc gì. Trong nhà Jobs thậm chí chỉ sắp đặt có vài bàn ghế thô sơ. Còn Bill Gates ông đã bỏ ngang công việc đỉnh cao để tập trung dành thời gian làm từ thiện, làm sao để đến cuối đời sẽ tiêu hết tài sản của mình vào các công tác từ thiện giúp ích cho xã hội cộng đồng và chỉ để lại cho con cái mỗi đứa vài triệu đô la, chỉ khoảng 1/10.000 tài sản của ông.

Do đó, nếu biết đặt trọng tâm kinh doanh vào mục tiêu phục vụ con người tất sẽ được xã hội công nhận và nuôi sống. Đó chính là chính nghĩa trong kinh doanh. Chính nghĩa ở đây không phải là cái gì xa lạ cao vời, không phải chỉ có ý nghĩa chính trị, mà định nghĩa đơn giản nhất là cái ý nghĩa hiệu quả của việc mình làm có được sự chấp nhận của mọi người cộng hưởng hay không ? Sự đồng thuận càng cao, chính nghĩa càng lớn, càng dễ thành công.

Chữ “nhân” đi đầu

Và để thực hiện được lý tưởng chính nghĩa này, chữ "nhân" đi đầu. Trong phạm trù đạo đức xã hội nói chung, Nhân là ý thức tự trọng trong vai trò cũng như trách nhiệm xã hội của mình và biết trân trọng giá trị cộng đồng chung quanh.

Có nhân, thì lễ, nghĩa, trí đi kèm mới tạo được chữ tín, tạo nên vòng tròn khép kín thể hiện giá trị đẳng cấp của cá nhân, của tập thể. Thiếu nhân thì dù có lễ, có nghĩa, có trí nhưng sẽ không đạt được tín. Thiếu nhân thì dù có dùng trí tinh tế như thế nào để thể hiện lễ và nghĩa cũng chỉ là hình thức màu mè, lâu dài sẽ phản tác dụng.

Con người thành tài mà không thành nhân thì sẽ tự hủy hoại hay lãng phí cái tài của mình. Cụ thể ta thấy thực tế một sản phẩm không thực sự có giá trị cho người sử dụng thì dù có khuyến mãi, quà xén chiêu thức như thế nào cũng không thể tạo được lòng tin và chắc chắn sẽ bị đào thải. Vì vậy kinh doanh mà không có chữ tín thì xem như DN sẽ đã thiếu cái "vốn xã hội" để tồn tại bền vững.

Trong kinh doanh, đối tượng phục vụ của doanh nhân không chỉ là khách hàng, mà còn là tổ chức, các cán bộ nhân viên trong Cty và gia đình của họ, các đối tác làm ăn, nhà đầu tư, hàng xóm láng giềng... Tất cả các đối tượng này là nước, và DN chính là thuyền. Nước cao thì đưa thuyền ra khơi tung lưới, nước cạn thì thuyền mắc cạn, khỏi cần bàn chiến lược kinh doanh, đánh bắt xa bờ. 

Ở đây ta nên hiểu thêm chính nghĩa trong kinh doanh với mục tiêu xuyên suốt là phải làm gì có lợi nhất cho cộng đồng xã hội từ những người thân gần gũi nhất, với tất cả tài nguyên sẵn có và có thể có của DN. Càng có nhiều người được hưởng lợi từ ta thì ta mới nhận được một phần giá trị thặng dư từ người.

“Tu thân”

Trong DN, bí quyết lãnh đạo, quản trị không khác gì so với lãnh đạo, quản trị trong một gia đình hay cũng có thể lãnh đạo cả một quốc gia. DN là một gia đình lớn, nhưng cũng là một “quốc gia” nhỏ. Và một người lãnh đạo trước khi muốn lãnh đạo tốt DN, muốn được xem là hình mẫu lý tưởng của người lãnh đạo trong DN mình, thì phải có khả năng lãnh đạo chính mình trước. Đó chính là “tu thân”.

Tu thân đầu tiên là phải biết đặt chữ "nhân" làm đầu. Mở rộng ra ngoài bản thân, trong một gia đình, người chủ gia đình có cho được cái "ân", và đặt quyền lợi hạnh phúc của người thân chung quanh mình lên trên hết, thì mới có được cái "uy" và cái “trung” để lãnh đạo lèo lái gia đình.

Ở tầm quốc gia, một đất nước chỉ có khả năng làm cho "dân giàu nước mạnh" khi lãnh đạo phải biết "lấy dân làm gốc", xuyên suốt mọi việc "do dân và vì dân". Những nhà lãnh đạo lớn thấu hiểu được chính nghĩa này nên luôn tất thắng.

Ở VN, người dân cũng đã nghe nhiều và kính phục tài lãnh đạo con người của Bác Hồ. Rất nhiều câu chuyện về Bác hoàn toàn có giá trị thiết thực trong lãnh đạo DN ngày nay vì luôn xuyên suốt một chính nghĩa : lấy dân làm gốc, lấy con người làm trọng tâm.

Cụ ông Trần Oanh, một nhà cách mạng lão thành năm nay 98 tuổi, nhưng vẫn còn rất minh mẫn và hiện đang sống với con cháu tại Hà Nội, đã kể lại câu chuyện tâm đắc về Bác : “Trước khi qua Lào nhận công tác do Hồ Chủ tịch giao phó, ông đã vào gặp Bác để xin chỉ đạo. Bác chỉ nhắn gửi vỏn vẹn mấy chữ :  "Làm gì thì làm, phải 'ĐƯỢC VIỆC, ĐƯỢC NGƯỜI, ĐƯỢC CÁN BỘ'  ". 

Kinh doanh cũng vậy. Làm gì thì làm cũng phải được việc mới tồn tại. Mà muốn được việc là phải được người, được lòng người, có được sự đồng thuận của mọi người chung quanh. Đã có chính nghĩa con người rồi thì cộng sự đồng tâm tất có, việc sẽ thành.

Theo Trần Sĩ Chương
Diễn đàn Doanh nghiệp

Bí mật và sự giải mã của các đại gia kinh doanh nước ngọt có Gas


Nhà kho nơi lưu giữ "công thức bí mật" của Coca-Cola
"Coca-Cola nói rằng họ đã giữ công thức bí mật đồ uống có ga của mình trong vòng 127 năm trời, tại một két sắt bằng thép luôn nằm trong ánh đèn an ninh màu đỏ. Vài chiếc camera an ninh đã giám sát 24/24 khu vực canh giữ công thức bí mật, nhằm đảm bảo nó luôn nằm trong vòng bí mật"
Các công ty như Coca-Cola và Hostess lâu nay vẫn "rêu rao" ý tưởng rằng công thức đồ ăn, uống của họ là những điều vô cùng linh thiêng, nhằm góp phần thúc đẩy doanh số bán hàng. Tuy nhiên, thực tế các "công thức bí mật" của họ đều đã bị thay đổi ít nhiều kể từ khi được tạo ra.

Tận dụng sức mạnh của truyền thống
Coca-Cola nói rằng họ đã giữ công thức bí mật đồ uống có ga của mình trong vòng 127 năm trời, tại một két sắt bằng thép luôn nằm trong ánh đèn an ninh màu đỏ. Vài chiếc camera an ninh đã giám sát 24/24 khu vực canh giữ công thức bí mật, nhằm đảm bảo nó luôn nằm trong vòng bí mật.
Nhưng trong dấu hiệu cho thấy hoạt động canh gác và giám sát chỉ để "biểu diễn", các bức ảnh xuất hiện trên màn hình giám sát cho thấy nhiều du khách đang mỉm cười và vẫy tay trước màn hình. “Nhà kho canh giữ bí mật này giống như một màn biểu diễn thôi", một người bảo vệ ở bảo tàng Thế giới Coca-Cola ở Atlanta, thừa nhận.
Tuy nhiên, có một thực tế rằng khả năng lưu giữ nguồn gốc lâu đời về một sản phẩm và tạo ra cảm giác hoài cổ có thể giúp mang tới doanh thu trị giá hàng tỷ đô la. Đó là lợi thế khó đo đếm, trong thời điểm các nhà sản xuất thực phẩm lớn đang vấp phải sự cạnh tranh dữ dội từ các doanh nghiệp nhỏ và siêu thị giá rẻ, vốn hấp dẫn những người Mỹ đang lâm vào cảnh kẹt tiền.
Đó là lý do vì sao các công ty như Coca-Cola và Twinkies vẫn cố giữ quan điểm rằng công thức đồ ăn/uống của họ là bí mật, không thay đổi suốt hàng thế kỷ và cần phải được bảo vệ chặt chẽ.
Mùa hè này, những chiếc bánh Twinkies chứa kem được nhiều người Mỹ ưa thích sẽ trở lại thị trường sau khi tạm vắng bóng suốt 9 tháng vì công ty mẹ Hostess Brands phá sản. Chủ nhân mới của những chiếc bánh này nói rằng nó sẽ có hương vị giống hệt như cũ.
Một đại diện của Hostess là Hannah Arnold nói trong thư điện tử rằng những chiếc bánh Twinkies ngày hôm nay "đặc biệt giống" với bánh gốc. Arnold cho biết 3 nguyên liệu đầu tiên của bánh vẫn là bột mỳ, nước và đường.
Vô cùng khó tin với tuyên bố "không thay đổi"
Tuy nhiên, không khó để nhận ra sự khác biệt. Một hộp bánh Twinkies giờ có tới hơn 25 thành phần và có thời hạn sử dụng 45 ngày, dài hơn gần 3 tuần so với thời hạn 26 ngày của cách đây một năm. Điều này cho thấy chắc chắn thành phần của bánh đã bị thay đổi, ít nhất là so với khi nó được tạo ra vào năm 1930. “Khi Twinkies mới ra đời, chúng chủ yếu được làm từ nguyên liệu tươi" - Steve Ettlinger, tác giả cuốn "Giải mã Twinkie" viết về nguồn gốc của chiếc bánh cho biết.
John Ruff, người từng lãnh đạo bộ phận nghiên cứu và phát triển ở công ty Kraft Foods, nói rằng các công ty thường thay đổi, tinh chỉnh công thức của họ vì nhiều lý do, bao gồm việc để đáp ứng các yêu cầu quản lý mới, chi phí sản xuất... có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất hàng loạt.
“Công thức bí mật giống như một bí ẩn vậy" - Marilyn Buamah, chủ tịch của Viện nghiên cứu công nghệ thực phẩm, nơi nghiên cứu khoa học thực phẩm cho biết - "Sẽ rất kinh ngạc nếu các công thức của những thương hiệu lớn chưa từng có sự thay đổi".
Có những công ty khẳng định họ vẫn tuân theo truyền thống. Ví dụ như KFC tuyên bố công ty vẫn áp dụng công thức đã được sáng lập viên, đại tá nhiều râu Harland Sanders tạo ra trong năm 1940. Chuỗi cửa hàng ăn nhanh này rất hiểu về sức mạnh của hoạt động tiếp thị, với Sanders đã từng nhuộm râu sang màu trắng để ông trông chín chắn hơn.
Năm 2009, khi KFC quyết định rằng công thức viết tay của món gà rán do họ tạo ra cần một sự bảo vệ mới mẻ hơn, công ty đã lắp một két sắt nặng 280 kg, thường xuyên được video giám sát, được gắn thiết bị phát hiện chuyển động và được bê tông dày tới gần một mét bao vây mọi mặt. Sự bảo vệ này là để tránh cho công thức bị đánh cắp.
Một phát ngôn viên KFC là Rick Maynard nói rằng các phần quan trọng trong công thức là việc pha chế gia vị, sử dụng gà sạch, ướp gà theo tiêu chuẩn và rán dưới áp lực đúng chuẩn. Công ty khẳng định các loại gà rán của mình đều sử dụng gia vị theo công thức ban đầu. Thế nhưng những thành phần phụ thêm được bổ sung sau này là gì thì họ không nói ra.
Hàng triệu người đã thăm bảo tàng Coca-Cola mỗi năm
 Coca-Cola và PepsiCo, hai công ty sản xuất đồ uống có gas số 1 và số 2 trên thế giới, cũng nổi tiếng vì hay "khoe" việc tuân theo truyền thống.
Thực tế trong cuốn sách “Công thức mật" xuất bản năm 1994, với nhiều bài phỏng vấn các quản trị viên cao cấp của Coca-Cola, phóng viên Frederick Allen nói rằng nhiều sự thay đổi đã được thực hiện với công thức của công ty trong nhiều năm. Ví dụ, Allan thấy rằng nước uống này từng chứa một lượng ma túy cocaine nhất định, kết quả từ việc có lẫn lá coca trong thành phần. Ngoài ra, Coca-Cola từng có lượng caffeine cao gấp 4 lần hiện nay.
Trong thông báo gửi qua thư, Coca-Cola nói rằng công thức mật của họ vẫn giống hệt khi mới được phát minh vào năm 1886 và cocaine chưa từng là "thành phần" được thêm vào nước uống có ga của họ.
PepsiCo cũng tôn vinh nguồn gốc và trong 2 năm qua đã tổ chức các cuộc họp cổ đông ở New Bern, nơi Caleb Bradham đã tạo ra thứ nước uống Pepsi nổi tiếng. Nhưng ít người biết rằng từ năm 1931, chủ nhân mới của công ty đã thực hiện các thay đổi để khiến thứ đồ uống này ngọt hơn, do ông không thích vị ban đầu của nó.
Không phải ai cũng thích truyền thống
Trong những năm 1980, cả Coca-Cola và PepsiCo đều chuyển từ đường sang dùng syro ngô, một chất tạo ngọt rẻ hơn. Năm ngoái, công ty cũng thay đổi chất tạo màu caramel trong nước uống của mình để tránh không phải dán mác đồ uống có khả năng gây ung thư ở California, vì có chứa carcinogen.
Cả Coca-Cola và PepsiCo đều đã nói rằng các chất tạo ngọt và chất tạo màu không thay đổi công thức cơ bản hoặc hương vị đồ uống của họ. Và họ tiếp tục bơm thêm cơn sốt về bí kíp truyền thống của mình.
Ví dụ như mùa xuân vừa qua, Coca-Cola đã hoan nghênh tin một người đàn ông ở Georgia đã tìm thấy bảo sao công thức đồ uống có ga của họ và tìm cách bán nó trên mạng eBay. Công ty nói rằng tin tức này cho thấy người ta vẫn rất quan tâm tới lịch sử đồ uống của công ty và thậm chí còn sốt sắng đề nghị việc cho các sử gia của công ty vào cuộc để tăng cơn sốt.
Sự trung thành với truyền thống đã được thể hiện rõ tại Thế giới Coca-Cola, nơi du khách tìm tới đây để chiêm ngưỡng két sắt chứa công thức mật. Trên tường của trung tâm có đầy các tít báo chí như để làm tăng thêm sự huyền bí. Ví dụ như : "Ngay cả khi nhìn thấy công thức, bạn cũng không thể hiểu nó" hay "Đây là bí ẩn lớn nhất mọi thời đại".
Bảo tàng đón khoảng 1 triệu du khách mỗi năm, nhưng không phải ai cũng ấn tượng với việc Coca-Cola bám lấy truyền thống. Trong một buổi chiều gần đây, sau khi đã ghé thăm nơi lưu giữ két sắt chứa bí kíp của công ty, một bé trai hùng hồn tuyên bố: "Nơi này thật chán ngắt".
Theo Tường Linh
Pháp luật VN

Phần 2 - Các cách quản lý CEO đầu thế giới - Nữ CEO là ai?

6. Tuân theo các chuẩn mực

Bernadette Coleman, CEO
Công ty: Advice Interactive Group
Xếp hạng: 131
Tỷ lệ tăng trưởng 3 năm: 2.807,9%
Doanh thu năm 2012: 3,2 triệu USD
“Toàn bộ cuộc sống của tôi đều đi vào khuôn khổ. Việc đi theo quỹ đạo những khuôn khổ của một ngày cho phép năng suất làm việc của tôi đạt mức độ cao nhất.”


7. Hạn chế phương tiện truyền thông

Rachel Everett, CEO
Công ty: Viderity
Xếp hạng: 135
Tỷ lệ tăng trưởng 3 năm: 2.741,1%
Doanh thu năm 2012: 10,7 triệu USD
“Phương tiện truyền thông là một con dao hai lưỡi. Bạn có thể nhờ vào nó mà phát triền, nhưng nó cũng có thể làm hại bạn. Tôi đặt ra một giới hạn nào đó trong việc sử dụng phương tiện truyền thông, bằng cách này tôi có thể quản lý cuộc sống trực tuyến một cách tích cực chứ không phải cập nhật trạng thái một cách vô thức.”

8. Tạo dựng môi trường làm việc lý tưởng

Laura Hutchings, CEO
Công ty: Populus
Xếp hạng: 140
Tỷ lệ tăng trưởng 3 năm: 2.684,7%
Doanh thu năm 2012: 3,1 triệu USD
“Để thúc đẩy một nền văn hóa công sở sôi động tích cực, hãy tạo ra một môi trường vật lý tích cực. Mọi thứ ở nơi làm việc, từ hệ thống chiếu sáng, âm thanh, đến cà phê, đều có tác động đến năng suất làm việc. Bạn nên tìm hiểu xem nhân viên của mình đề cao điều gì, từ đó hãy đầu tư đúng vào những khía cạnh được đề cao đó, như vậy đảm bảo nhân viên sẽ làm việc nhiệt tình hơn.”

9. Hãy ủy thác

Alpa Shah, CEO
Công ty: 1st American Systems and Services
Xếp hạng: 156
Tỷ lệ tăng trưởng 3 năm: 2.492,3%
Doanh thu năm 2012: 2,6 triệu USD
“Tôi đã từng nghĩ, mình là một người có nét tính cách loại A*. Nếu tôi không bắt tay vào giải quyết công việc nào đó, thì công việc đó sẽ vẫn dậm chân tại chỗ. Sau đó tôi nhận ra là tôi không thể làm được tất cả mọi việc. Thay vào đó, nếu tôi ủy thác công việc cho những người phù hợp, thì công việc sẽ được hoàn thành với kết quả tốt hơn.”
* Theo thuyết phân loại tính cách, những người có nét tính cách loại A là người tham vọng, luôn đặt ra kế hoạch để đạt được mục tiêu, luôn sẵn sàng đối mặt và giải quyết vô số những vấn đề trước mắt.

10. Công việc như một trò chơi

Vivian Keena, CEO
Công ty: Alternative Technology Solutions
Xếp hạng: 167
Tỷ lệ tăng trưởng 3 năm: 2.407,1%
Doanh thu năm 2012: 8,8 triệu USD
“Thế hệ trẻ thích coi mọi thứ như một trò chơi, kể cả trong công việc. Họ muốn được thử thách và trở thành một phần trong một cộng đồng nào đó. Đội ngũ nhân viên của tôi luôn làm hết khả năng của mình và đôi khi vượt quá yêu cầu của công việc. 
Sự nỗ lực đó không hề bắt nguồn từ động lực kiếm tiền, mà do khao khát được công nhận. Tôi vẫn thử thách chính mình để nâng cao tinh thần cạnh tranh như đội ngũ nhân viên trẻ của mình.”


Phong Linh
Theo Trí Thức Trẻ/Inc.

Phần 1 - Các cách quản lý CEO đầu thế giới - Nữ CEO là ai?

Mỗi ngày có hàng ngàn thứ diễn ra - Hãy viết ra những kế hoạch rỏ ràng để thực hiện: xem những CEO Nữ quản lý như thế nào?

1. Họp ngắn là cần thiết

Tiffany Crenshaw, CEO
Công ty: Intellect Resources
Xếp hạng: 40
Tỷ lệ tăng trưởng 3 năm: 6.553,7%
Doanh thu năm 2012: 30 triệu USD

“Hãy bắt đầu một ngày làm việc bằng những cuộc họp nội bộ nhanh trong vòng 15 phút với ban giám đốc điều hành cấp cao và sau đó với đội ngũ lãnh đạo. Mọi người sẽ vạch ra những mục tiêu cho từng thành viên để đạt được. Sau đó, cùng nhau sử dụng năng lực bản thân để xóa sổ những chướng ngại vật. Khi đã đạt được thành công, đừng quên ăn mừng nó.”

2. Hãy là một người lãnh đạo hữu ích

Nayereh Rassoulpour, CEO
Công ty: NSR Solutions
Xếp hạng: 42
Tỷ lệ tăng trưởng 3 năm: 6.392,4%
Doanh thu năm 2012: 10,1 triệu USD
“Bạn nên gần gũi với nhân viên. Khi nhân viên thấy sếp của họ là một người chủ dễ tiếp cận hơn là một nhân vật khó với, họ sẽ cảm thấy được khích lệ để đi tiếp chặng đường thực hiện nhiệm vụ của mình."

3. Đóng cửa đúng lúc

Chris Green, CEO
Công ty: Saratoga Roofing
Xếp hạng: 51
Tỷ lệ tăng trưởng 3 năm: 5.328,3%
Doanh thu năm 2012: 29,3 triệu USD
“Chúng tôi có những khoảng thời gian tự đóng cửa biệt lập, khi đó nhân viên cảm thấy không còn bị làm phiền bởi những yếu tố bên ngoài, do vậy họ sẽ làm việc năng suất hơn nhiều so với bình thường.”

4. Chữa cháy ngay lập tức

Sophia Parker, CEO
Công ty: DSFederal
Xếp hạng: 56
Tỷ lệ tăng trưởng 3 năm: 5.151,5%
Doanh thu năm 2012: 9,4 triệu USD
“Hãy giải quyết những vấn đề lớn và nhỏ ngay lập tức. Đôi lúc bạn có thể bị ngập ngụa bởi một núi những vấn đề xoanh quanh nhân viên và khách hàng. Không còn cách nào khác là bắt tay vào giải quyết chúng ngay khi đó, thay vì ngồi một chỗ và than vãn.”

5. Không quản lý vi mô

 Susheel Bathla, CEO

Công ty: Maestro Technologies
Xếp hạng: 130
Tỷ lệ tăng trưởng 3 năm: 2.831,6%
Doanh thu năm 2012: 5,2 triệu USD
“Hãy để cho nhân viên của bạn được tự do. Tôi không bao giờ có ý định (hay còn không có thời gian) để quản lý vi mô đội ngũ nhân viên của mình. Ngoài ra, hãy thường xuyên họp mặt để thảo luận các vấn đề, những mối quan tâm và thử thách. Nếu có ai đó muốn tần suất họp mặt thưa thớt hơn, hãy đồng ý, miễn là họ cảm thấy được tự do.”
  

Xem thêm phần 2 : Click xem

Thương trường là chiến trường - Khi tới thời cơ sẽ tấn công đối thủ!


Thương trường là chiến trường! Các chuyên gia tiếp thị cho rằng khi nào doanh nghiệp nên tấn công? Mark Di Somma – một chuyên gia về quản lý và xây dựng nhãn hiệu, cũng là cây bút thường xuyên của tạp chí Branding Strategy Insider cho rằng doanh nghiệp nên tấn công đối thủ cạnh tranh những trường hợp bên dưới!

"Chuyên gia tiếp thị quan niệm rằng làm tiếp thị có nghĩa là tham gia vào một cuộc chiến nhằm tranh giành khách hàng và thị phần. Vì thế, có lúc doanh nghiệp cần rút lui để đánh giá lại các nguồn lực và cũng có lúc phải tấn công các đối thủ cạnh tranh."
1. Khi chỉ có cách duy nhất để mở rộng thị phần. 

Khi phải cạnh tranh trong một thị trường không có nhiều triển vọng mở rộng thêm về quy mô thì cách tốt nhất để nới rộng thị phần là chiếm thị phần của các đối thủ. 
Tuy nhiên, trong một thị trường ổn định thì các biến động về thị phần nói chung không lớn, đòi hỏi doanh nghiệp phải mất nhiều công sức và chi phí để có được “miếng bánh” lớn hơn. 
Do đó, điều quan trọng là doanh nghiệp cần cân nhắc giữa lợi ích thu được và các chi phí bỏ ra.

2. Khi sở hữu thứ mà các đối thủ cạnh tranh không có.
Trong một thị trường mà hàng hóa của các đối thủ cạnh tranh tương tự nhau thì một cải tiến mới trong sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ giúp doanh nghiệp có thêm khách hàng mới.
Somma cho rằng doanh nghiệp phải luôn nỗ lực cải tiến sản phẩm hoặc dịch vụ và nên nhanh chóng thông tin cho các khách hàng biết những ý tưởng mới hay các cải tiến đã thực hiện để họ thấy được doanh nghiệp rất cố gắng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

3. Khi có thông điệp tiếp thị hấp dẫn, khác hẳn thông điệp của các đối thủ cạnh tranh. 
Trường hợp này rất thích hợp đối với các nhãn hiệu muốn tạo ra một tính cách riêng trong một thị trường ít sôi động. Tạo thêm nhiều sự chú ý của khách hàng là tiền đề để doanh nghiệp có được thị phần lớn hơn.

4. Khi đối thủ cạnh tranh chựng lại. 
Đây là lúc doanh nghiệp có thể hành động nhanh với quyết tâm đạt cho được một số mục tiêu cụ thể. Điều quan trọng là phải tập trung vào các hành động và kết quả thực hiện phải thấy được, cụ thể là giúp doanh nghiệp bành trướng sự hiện diện trên thị trường.
Nếu doanh nghiệp hành động nhanh thì đối thủ nào đang “ngủ quên trên chiến thắng” sẽ không kịp nhận ra sự thay đổi quan trọng đó.

5. Khi hình ảnh của đối thủ cạnh tranh đang trở nên mờ nhạt. 
Nếu đối thủ cạnh tranh đang gặp rắc rối khó giải quyết hay đơn giản là vị thế của họ trên thị trường đang bị suy yếu thì doanh nghiệp cũng nên tổ chức tấn công. Nỗ lực mở rộng thị phần trong hoàn cảnh ấy sẽ khiến đối thủ cạnh tranh khó có thể phản ứng lại.

6. Khi bản thân doanh nghiệp muốn làm mới hình ảnh của mình. 
Đây được xem là một ý đồ chiến lược rất táo bạo, vì vậy doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ các rủi ro trước khi đầu tư công sức và tiền của để chứng tỏ cho khách hàng thấy doanh nghiệp đang thay đổi nhằm mang lại cho họ những điều tốt đẹp hơn.

7. Khi đối thủ cạnh tranh đang chuẩn bị tấn công. 
Nếu biết đối thủ cạnh tranh đang chuẩn bị tấn công mình thì một trong những cách phòng vệ tốt nhất là tấn công họ trước. Động thái này sẽ khiến cho đối thủ cạnh tranh chuyển từ thế tấn công sang phòng thủ.

8. Khi bị đối thủ cạnh tranh tấn công, cần phải có biện pháp chống lại. 
Trong trường hợp này, doanh nghiệp cần phải tìm cách trì hoãn các kế hoạch của đối thủ cạnh tranh. Có bốn cách để thực hiện điều này: 
(i) Đổi hướng tấn công sang đối thủ yếu hơn; 
(ii) Bác bỏ những điều đối thủ cạnh tranh đang làm; 
(iii) Tái định vị nhãn hiệu của doanh nghiệp nhằm thay đổi nhận thức của khách hàng về doanh nghiệp; 
(iiii) Khéo léo nhắc nhở khách hàng về những giá trị của doanh nghiệp và giải thích vì sao khách hàng nên gắn bó với doanh nghiệp.

9. Khi có thời cơ để mở rộng thị phần. 
Nếu doanh nghiệp đang từng bước mở rộng thị phần thì có thể tấn công đối thủ bằng cách mua lại một số cơ sở, cửa hàng của đối thủ cạnh tranh để mở rộng mạng lưới bán hàng, đồng thời tạo áp lực lên các đối thủ khác.
Thông thường, khi các doanh nghiệp cạnh tranh đối đầu trực tiếp và kéo dài thì khách hàng không còn quan tâm đến những gì xảy ra trên “đấu trường” và không phân định được ai đúng ai sai (vì điều khách hàng quan tâm nhất là các doanh nghiệp làm được gì cho họ).

Do đó, Somma khuyên rằng doanh nghiệp cần tuân thủ một số nguyên tắc dưới đây khi tấn công đối thủ cạnh tranh:
- Hướng đến lợi ích của khách hàng chứ không phải nhằm đánh bại đối thủ.
- Giữ thái độ quyết tâm nhưng hòa nhã, lịch sự. Dùng lý lẽ tấn công vào điểm yếu có thật của đối thủ cạnh tranh chứ không vào những vấn đề mang tính cá nhân.
- Tích cực và lạc quan nhìn về những khả năng có thể xảy ra.
- Sử dụng nhiều kênh truyền thông để thể hiện quan điểm của mình.
- Tập trung giới thiệu những điểm mạnh của mình, không cần đi sâu phân tích điểm yếu của đối thủ cạnh tranh.
- Thực hiện đúng những cam kết với khách hàng.
- Đặt ra kế hoạch tấn công với thời hạn, ngân sách và các giải pháp rõ ràng, cụ thể. Thường xuyên đánh giá lại việc thực hiện kế hoạch.
 Theo NHẤT NGUYÊN
Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần/BSI

Phần 2 - Các Tỷ Phú Tương Lai Thế Giới - Không Có Giới Trẻ - Lý do ở đâu?

5.K. Dinesh – 870 triệu USD

K. Dinesh là nhà sáng lập công ty phần mềm đa quốc gia và gã khổng lồ công nghệ thông tin có tên Infosys. Công ty được thành lập vào năm 1981 và doanh thu hiện tại ước tính vào khoảng hơn 7 tỷ USD. Công ty tuyển dụng hơn 157.000 người trên khắp thế giới
4. Brij Bhushan Singhal – 890 triệu USD

Brij Bhushan Singhal là chủ tịch của Bhushan Steel. Công ty này được xem là nhà sản xuất thép tự động lớn nhất ở Nam Á. Công ty được thành lập năm 1987 và tham gia vào sản xuất thép cán nguội, gạch màu tráng, ống rút, dải hay cuộn thép, phôi thép hợp kim và Bhushan Galume. Năm ngoái công ty đã báo cáo con số doanh thu đạt 1,32 tỷ USD.
3. Vijay Mallya – 900 triệu USD

Vijay Mallya là một nhà công nghiệp và chủ tịch của tập đoàn UB, công ty kiếm lợi nhuận từ nhiều lĩnh vực khác nhau như sản xuất bia, chưng cất, được phẩm, công nghệ, bất động sản, phân bón, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin. Ngoài việc được nhận giải thưởng doanh nhân châu Á vào năm 2012, Mallya còn được Diễn đàn kinh tế thế giới công nhận ông là nhà nhà lãnh đạo toàn cầu tương lai.
2. Anu Aga - 935 triệu USD

Anu Aga từng là chủ tịch của công ty Ấn Độ có tên Thermax Ltd. Một công ty đa quốc gia có mặt ở 75 đất nước trên khắp thế giới. Nó được thành lập năm 1980 và sản xuất các sản phẩm như thiết bị làm lạnh cho các đơn vị sử dụng điều hòa quy mô lớn, máy phát điện hơi nước và nồi hơi. Bà đã nghỉ hưu vào năm 2004, tuy nhiên công việc điều hành công ty đã được truyền lại cho con gái của bà. Aga duy trì như một thành viên của Hội đồng quản trị. Sau khi rời công ty, bà đã tập trung vào các công việc xã hội. Với nỗ lực của mình, chính phủ đã công nhận bà với giải thưởng Padma Shri cho các công tác xã hội.
1. Anurag Dikshit - 980 triệu USD


Anurag Dikshit là chiến lược gia cao cấp của tập đoàn Partygaming, một công ty thuộc sở hữu của người Mỹ có tên Ruth Parasol. Bà đã giao cho Dikshit một phần đáng kể cổ phần của công ty sau khi ông viết ra chương trình cho phép những người đánh bạc có thể chơi trực tuyến với nhau qua bài poker.
 Theo Phong Lâm
Zing/Tri Thức/Therichest

Phần 1 - Các Tỷ Phú Tương Lai Thế Giới - Không Có Giới Trẻ - Lý do ở đâu?

Câu chuyện thành công của các tỷ phú tương lai  2013 - Tài sản hiện tại bao nhiêu???
10. Choo Chong Ngen – 690 triệu USD


Choo Chong Ngen là trùm khách sạn có tiếng tại Singapore. Ông được biết đến như một nhà đầu tư bất động sản thành công từ những năm 1980. Khi Singapore trở thành nền kinh tế phát triển, Ngen cho khai trương khách sạn đầu tiên vào giữa những năm 90. Ông gọi đó là Khách sạn 81 và kể từ đó nó phát triển lên tới 30 khách sạn, trở thành một chuỗi “cây nhà lá vườn” lớn nhất của đất nước.

Ngen được biết đến là người theo chủ trương giáo dục, khi ông quyên góp 1,5 triệu USD cho trường đại học công nghệ Nanyang, một trong những ngôi trường hàng đầu tại Singapore nói riêng và châu Á nói chung.

9. Bhupendra Kumar Modi – 755 triệu USD


Bhupendra Kumar Modi là triệu phú trong nhiều lĩnh vực ở Singapore. Ông sở hữu Spice, một tập đoàn liên doanh thu lời từ rất nhiều ngành khác nhau bao gồm dịch vụ tài chính, giải trí và thiết bị di động. Ngoài Spice, Modi còn sở hữu hơn 66% của S Mobility. Ông cũng đầu tư bất động sản vào cả Singapore và Ấn độ. Modi có bằng thạc sỹ quản trị kinh doanh của trường Đại học Nam California.
8.Oei Hong Leong - 765 triệu USD

Oei Hong Leong là tỷ phú ở Singapore. Ông là con trai của Eka Tjipta Widjaja, một tỷ phú người Indonesia. Leong tạo dựng sự giàu có của mình bằng những khoản đầu tư khôn ngoan. Ông đã gây ấn tượng sau khi kiếm được lợi nhuận lên tới 1 triệu đôla sau khi mua và tạo sự quay vòng cho 21% cổ phiếu của Intraco, một công ty trao đổi và buôn bán nhựa và kim loại. Leong cũng nắm giữ khá lớn cổ phần trong IPC, một công ty niêm yết ở Singapore. Là một người nổi tiếng yêu nghệ thuật, ông cũng dùng một khoản dành cho hỗ trợ các hoạt động văn hóa và nắm giữ quyền lợi ở rất nhiều công ty được ghi vào trong danh sách của thành phố.
7.A. Vellayan – 805 triệu USD

A. Vellayan l chủ tịch của tập đoàn Murugappa, Ấn độ. Tập đoàn kiếm lợi nhuận từ rất nhiều lĩnh vực, bao gồm: bảo hiểm, phân bón, xe đạp, chất hóa học, dây chuyền tự động, khung cửa xe ô tô và ống thép. Murugappa đã hoạt động từ năm 1900 và có một số lượng nhân viên khá lớn trên đất nước, khoảng 32.000 người. Vellayan có bằng về Quản trị công nghiệp từ Đại học Aston của Anh và bằng thạc sỹ về lĩnh vực kinh doanh của Đại học Kinh doanh Warwick.
6. Tan Boy Tee – 855 triệu USD

Tan Boy Tee là người Singapore, sự giàu có của ông chủ yếu xuất phát từ công nghiệp vận chuyển. Năm 1978, ông thành lập công ty thuyền và tàu kéo với tên gọi Labroy Marine. Với sự trỗi dậy của Singapore như một trung tâm thương mại, doanh thu của công ty đã tăng vọt. 

Năm 2008, gần 30 năm sau ngày khởi nghiệp, ông đã thành lập công ty mua sắm Tan Boy Tee và bán công ty Labroy Marine với giá 700 triệu USD. Ông cũng nắm giữ lượng lớn cổ phần ở các công ty khác, bao gồm 15% cổ phần trong công ty bất động sản có tên gọi Brothers. Ông cũng đã bán cổ phần của mình với giá 10 triệu USD. Hiện giờ, Tee vẫn duy trì quyền sở hữu nhiều công ty được niêm yết tại Singapore.

Xem tiếp phần 2 - Click xem

Phần 2 - Câu chuyện thành của những người tài ba - Đam mê - Dám nói dám làm!

 5. Winston Churchill


Churchill đã từng là một cậu bé nổi loạn, không học hành tốt khi ở trường và thậm chí là trượt lớp 6. Ông bị âật nói ngọng và nói lắp. Ông cũng từng thử thách mình trong xây dựng quân sự và sự nghiệp chính trị nhưng ông đều thua trong hầu hết các cuộc tranh cử mà ông tham gia. Những năm sau đó, ông đã bị cô lập thậm chí từ ngay trong đảng Bao thủ Anh. Uy tín chính trị của ông đã bị ảnh hưởng nặng nề đến nỗi ông đã tự đày mình tạm thời khỏi Nghị viện và Hạ viện.
Nhưng Churchill là một trong số những người đầu tiên nhìn thấy sự nguy hiểm của Đức Quốc xã và cố gắng trở thành thủ tướng Anh ở tuổi 62 trong Thế chiến II. Sự kiên định của ông đã giúp cho nước Anh chống lại Hít le, sau đó là đánh bại Đức Quốc xã và đưa ông trở thành “Người Anh vĩ đại nhất của mọi thời đại”.

4. Albert Einstein


Einstein đã từng bị coi là người đàn ông chậm chạp. Ông ghét sự khuôn phép của trường học. Khi 16 tuổi, ông đã trượt kỳ thi đầu vào của trường Bách khoa Liên Bang Thụy Sỹ tại Zurich. Thay vào đó, ông phải học một trường nhỏ hơn. Cho dù ông đã cố gắng có bằng sư phạm từ trường Bách Khoa Thụy Sỹ sau đó, ông đã thất nghiệp hai năm. Sau đó, ông đã có công việc giám định bằng sáng chế cho Cơ quan Sáng chế Thụy Sỹ.
Nhưng ông đã thử sức mình với các báo cáo khoa học của riêng mình từ năm 1901 đến 1905 (trong đó có báo cáo về thuyết tương đối) mà sau này trở thành bước đột phá trong khoa học. Năm 1909, ông được công nhận là nhà khoa học tiên phong hàng đầu và là một trong những người sở hữu trí óc siêu việt nhất trong lịch sử loài người.
3. J.K.Rowling


Đã có thời điểm, tác giả nổi tiếng của bộ truyện Harry Potter là một bà mẹ đơn thân thất nghiệp tuyệt vọng nuôi con nhờ tiền trợ cấp xã hội. Cô thậm chí còn vừa ôm con vừa viết tập truyện đầu tiên của Harry Potter trong một quán cà phê, vừa viết vừa ăn và cho con ngủ. Cuốn sách của cô đã bị từ chối bởi không dưới 12 nhà xuất bản.
Tuy nhiên sau đó, nhà xuất bản Bloomsbury đã đồng ý xuất bản cuốn truyện này. Cuốn truyện dành được nhiều lời khen ngợi và bán được rất nhiều bản thảo, giúp cho Rowling có thể tiếp tục viết tiếp những phần sau và trở thành người giàu có với số tài sản thậm chí còn nhiều hơn Nữ hoàng Anh
2. Steve Jobs

Jobs đã định nghĩa lại cách thế giới sử dụng máy tính cá nhân thông qua công ty máy tính mà ông sáng lập, Apple Inc. Ông đã tạo ra máy tính Mac và GUI (Giao diện đồ họa người dùng). Nhưng ông đã bị sa thải bởi hội đồng giám đốc, khiến ông chán nản và thất vọng.
Ông bắt đầu lại với một công ty khác với tên gọi NeXT Computer, phát triển công nghệ máy tính cá nhân thế hệ tiếp theo và mua hãng phim Lucasfilm rồi đổi tên thành Pixar. Khi công ty Apple đang lụi bại mời ông quay trở về, ông đã đồng ý trở lại tiếp quản công ty và cuối cùng đã đưa Apple thành một trong những công ty sáng tạo và lợi nhuận nhất hành tinh.
1. Abraham Lincoln


Vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ là người đã kết thúc chế độ nô lệ ở đất nước này. Ông tự học ở nhà trong một gia đình ở biên giới đất nước. Ông đã cố gắng kinh doanh riêng và bước chân vào con đường chính trị nhưng do thiếu nền giáo dục từ nhỏ, sự kết nối quyền lực và tiền bạc mà ông đã thất bại hai lần trong kinh doanh và tám lần trong các cuộc bầu cử. Khi kết hôn với bà Mary Todd, họ có bốn người con trai nhưng ba trong số họ đã chết sớm do bệnh tật. Điều này đã gây ra bệnh trầm cảm cho ông
Nhưng vào năm 1860, ông được đề cử là ứng viên của đảng dân chủ cho chức tổng thống. Ông đã thắng cử và trở thành Tống thống Hoa Kỳ trong thời nội chiến và kết thúc chế độ nô lệ cho những người Mỹ gốc Phi
Phong Linh
Theo Trí Thức Trẻ/Therichest

Phần 1 - Câu chuyện thành của những người tài ba - Đam mê - Dám nói dám làm!


Trong cuộc sống công việc, gia đình, mối quan hệ, ... mấy ai làm tròn hết tất cả các lĩnh trực kia và đạt kết quả tốt. Dưới đây là những người tài ba nhất!

9. Lucille Ball

Lucille bị đuổi ra khỏi trường Sân khấu Nghệ thuật John Murray Anderson tại New York vì nỗi sợ hãi mỗi khi biểu diễn. Sau đó, bà tiếp tục quay trở lại New York với tư cách một người mẫu thời trang và diễn viên, bị sa thải bởi ít nhất hai nhà sản xuất. Bà tới Hollywood, ký hợp đồng với Metro-Goldwyn-Mayer, nhưng những nỗ lực hết mình cũng chỉ đưa bà đến với các bộ phim điện ảnh hạng B

Cuối cùng bà đã tìm thấy con đường của mình ở lĩnh vực phát thanh và truyền hình, một loại hình giải trí mới trở lại vào những thập niên 40 và 50. Bà cùng với chồng là ông Desi Arnaz đã cho ra mắt chương trình truyền hình “I Love Lucy” trình chiếu trên đài CBS. Đây là một trong những chương trình phát sóng lâu nhất trong lịch sử truyền hình và giúp bà trở thành một diễn viên hài nổi tiếng

8. Steven Spielberg


Là một người đàn ông trẻ mắc chứng khó đọc, lá đơn xin vào trường Đại học Sân khấu, Điện ảnh và Truyền hình Nam California của ông đã bị từ chối ba lần. Thay vào đó, ông đến trường Đại học bang California nhưng cuối cùng ông cũng bỏ học tại đó.

Tác phẩm đầu tay của nhà đạo diễn nổi tiếng này là “Sugarland Express” được giới phê bình đánh giá cao nhưng lại thất bại về doanh thu phòng vé. Tuy vậy, Spielberg đã tiến lên phía trước và được giao cơ hội với những bộ phim có ngân sách lớn như “Jaws”, “Close Encounters of the Third Kind”, “ET”, “Raiders of the Lost Ark” và “Jurassic Park”.
Nhưng Viện Hàn lâm Điện ảnh và Khoa học đã “ghẻ lạnh” với ông trong nhiều năm và không trao cho ông giải thưởng Đạo diễn xuất sắc nhất cho tới năm 1993 khi ông đạo diễn phim “Schinder’s List”. Từ đó cho đến nay, ông được công nhận là một đạo diễn hạng A của Hollywood và là quyền lực nghệ thuật chính trong lịch sử phim ảnh.

7. Walt Disney


Disney đã từng bị biên tập viên sa thải khi ông còn là một nghệ sĩ trẻ vì “thiếu ý tưởng hay” và “thiếu trí tưởng tượng”.

Disney muốn lập ra công ty thiết kế phim họat hình ngắn. Nhưng những lần thử đầu tiên của ông đã thất bại. Đã có thời điểm, ông bị mất một vài nhân viên và quyền sở hữu nhân vật hoạt hình vào tay Universal Pictures. Nhưng cuối cùng, ông đã xây dựng được một đế chế giải trí khổng lồ với những nhân vật hoạt hình kinh điển nổi tiếng như vịt Donald và chuột Mickey cùng với những bộ phim đột phá như “Nàng Bạch Tuyết” hoặc “Người đẹp ngủ trong rừng”.

6. Oprah Winfrey


Nữ hoàng truyền hình lớn lên trong sự nghèo khó và bị lạm dụng tình dục khi còn là một đứa trẻ. Bà thử sức mình với vai trò một phóng viên truyền hình nhưng đã bị sa thải bởi người ta cho rằng bà không hợp với truyền hình. Những vấn đề từ lúc còn nhỏ đã làm ảnh hưởng đến bà, khiến cho bà có vấn đề về cân nặng. Bà cũng thử dùng cocaine và thất bại trong nhiều mối quan hệ.

Nhưng cuộc đời bà đã thay đổi khi bà làm chủ một chương trình truyền hình, sản xuất và xuất hiện trong chương trình của chính bà mang tên “Oprah Winfrey Show”. Bà đã thay đổi cách thực hiện các chương trình talk show bằng cách tập trung vào địa chính trị, sức khỏe, tâm linh và các chương trình từ thiện. Chương trình của bà đã trở thành chương trình trò chuyện có nhiều người xem nhất trên hành tinh và đưa bà trở thành một tỷ phú.

Xem phần 2: Click xem